Line Vertical Thin Streamline Icon: https://streamlinehq.com
Home / Kiến thức / Kiến thức quản lý Nhân sự tiền lương / Mức phạt vi phạm BHXH, BHTN từ 10/09/2026 theo Nghị định 283/2026/NĐ-CP
Mục lục

Mức phạt vi phạm BHXH, BHTN từ 10/09/2026 theo Nghị định 283/2026/NĐ-CP

Điểm chính

📌 Các điểm đáng chú ý về xử phạt vi phạm BHXH, BHTN theo Nghị định 283/2026/NĐ-CP, hiệu lực ngày 10/09/2026:

Nghị định 283/2026/NĐ-CP, hiệu lực ngày 10/09/2026, thay thế Nghị định 12/2022/NĐ-CP về căn cứ xử phạt các vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động và bảo hiểm xã hội (BHXH). Bài viết cập nhật điểm mới Nghị định 283, mức phạt vi phạm và các đề xuất rà soát cần thực hiện ngay tháng này.

mức phạt vi phạm bhxh 2026
Mức phạt vi phạm BHXH, BHTN từ 10/09/2026

Điểm mới Nghị định 283/2026/NĐ-CP

Nghị định 283/2026/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 23/08/2026, hiệu lực từ 10/09/2026; thay thế Nghị định 12/2022/NĐ-CP cũ. Nghị định phân biệt rõ hai nhóm hành vi chậm đóng và trốn đóng. Cùng một khoản tiền chưa nộp, nếu bị xếp vào diện trốn đóng thì mức phạt cao hơn.

Theo Khoản 2 Điều 67 Nghị định 283, vi phạm phát sinh trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực nhưng vẫn chưa được giải quyết khi Nghị định có hiệu lực thì xử lý theo quy định mới tại Nghị định này.

Mức phạt vi phạm về BHXH, BHTN

Theo khoản 1 & 3 Điều 7 Nghị định, các mức phạt vi phạm quy định tại Nghị định này là mức phạt đối với cá nhân và hộ kinh doanh; trừ một số trường hợp cụ thể. Mức phạt đối với tổ chức, doanh nghiệp bằng 2 lần mức này.

Chậm đóng BHXH bắt buộc và BHTN (Điều 43 & 45) là hành vi chưa đóng hoặc đóng chưa đủ số tiền theo hồ sơ đã đăng ký trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết hạn theo quy định. Mức phạt đối với hành vi này bằng 12%–15% tổng số tiền chậm đóng tại thời điểm lập biên bản, tối đa 75 triệu đồng (24%–30%, tối đa 150 triệu đồng đối với doanh nghiệp). Nếu số tiền vi phạm dưới 400.000 đồng thì chỉ bị phạt cảnh cáo.

Trốn đóng BHXH bắt buộc và BHTN (Điều 44 & 46) là hành vi:

  • Đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng BHXH thấp hơn quy định tại khoản 1 Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội.
  • Không đóng hoặc đóng không đủ số tiền đã đăng ký sau 60 ngày kể từ ngày đóng chậm nhất, và đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

Mức phạt đối với hành vi này bằng 18%–20% tổng số tiền trốn đóng, tối đa 75 triệu đồng (36%–40%, tối đa 150 triệu đồng đối với doanh nghiệp).

Trường hợp người sử dụng lao động không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia BHXH bắt buộc, BHTN; mức phạt được tính theo số lao động bị bỏ sót và bản chất hành vi vi phạm, dao động từ 5 – 75 triệu đồng (BHXH) và từ 500 nghìn – 40 triệu đồng (BHTN). Mức phạt này gấp đôi đối với doanh nghiệp.

Nộp phạt không xóa nghĩa vụ

Bên cạnh khoản tiền phạt nêu trên, Nghị định quy định rõ chế tài khắc phục hậu quả:

  • Đóng đủ số tiền BHXH, BHTN còn thiếu.
  • Đóng khoản chậm nộp 0,03%/ngày tính trên số tiền vi phạm và số ngày chậm.

💡 Ví dụ minh họa

Công ty A có 60 lao động, bị lập biên bản với số tiền BHXH chậm đóng 900 triệu đồng, số ngày chậm bình quân 90 ngày.

  • Tiền phạt: 24%–30% × 900 triệu = 216 ~ 270 triệu → vượt ngưỡng, phạt tối đa 150 triệu đồng.
  • Truy đóng: 900 triệu đồng.
  • Nộp thêm 0,03%/ngày: 900 triệu × 0,03% × 90 ngày = 24,3 triệu đồng.

→ Tổng nghĩa vụ ~1.074,3 triệu đồng.
ⓘ Số liệu chỉ mang tính chất minh họa; thực tiễn phụ thuộc biên bản và quyết định xử phạt.

Hơn nữa, theo khoản 2 Điều 4, trường hợp hành vi có dấu hiệu tội phạm (tái phạm trốn đóng, làm giả hồ sơ hưởng chế độ, v.v..) hồ sơ vụ việc sẽ được chuyển sang cơ quan tố tụng hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự.

📜 Mức hình phạt cụ thể, tham khảo thêm bài: Tội trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động.

Doanh nghiệp cần làm gì?

Câu hỏi thường gặp

Chậm đóng là chưa đóng hoặc đóng chưa đủ số tiền theo hồ sơ đã đăng ký sau ngày đóng chậm nhất.

Trốn đóng là đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng thấp hơn quy định, hoặc vẫn không đóng đủ sau 60 ngày kể từ hạn đóng và đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc. Mức phạt với doanh nghiệp lần lượt là 24%–30% và 36%–40% số tiền vi phạm.

150 triệu đồng cho một hành vi vi phạm. Mức phạt ghi tại Nghị định (75 triệu đồng) là mức cá nhân, mức phạt với tổ chức bằng 2 lần mức phạt với cá nhân.

Tùy hành vi đã kết thúc hay còn tiếp diễn. Vi phạm xảy ra và đã kết thúc trước 10/09/2026 thì áp dụng quy định có hiệu lực tại thời điểm vi phạm. Vi phạm bắt đầu trước nhưng vẫn đang diễn ra sau ngày đó — ví dụ khoản chậm đóng chưa nộp bù — thì áp dụng Nghị định 283/2026/NĐ-CP (Điều 67).

Theo mức của cá nhân (khoản 3 Điều 7). Ví dụ không đăng ký BHXH cho dưới 10 lao động sau thời hạn 60 ngày: hộ kinh doanh bị phạt 6 – 12 triệu đồng, doanh nghiệp bị phạt 12 – 24 triệu đồng cho cùng hành vi.

Với các hành vi tại Điều 43, 44, 45, 46, nếu vi phạm ở nhiều thời điểm khác nhau mà chưa bị xử lý và chưa hết thời hiệu thì chỉ bị xử phạt về một hành vi, đồng thời áp dụng tình tiết tăng nặng “vi phạm nhiều lần” (khoản 4 Điều 7).

Riêng hành vi trốn đóng, tái phạm còn có thể bị chuyển hồ sơ sang cơ quan tố tụng hình sự theo khoản 2 Điều 4.

Zalo