Đăng ký thuế đối với tổ chức khoa học và công nghệ

Đăng ký thuế đối với tổ chức khoa học và công nghệ. Căn cứ các quy định của pháp luật về thành lập, đăng ký hoạt động tổ chức khoa học và công nghệ và quy định của pháp luật về đăng ký thuế thì: tổ chức khoa học và công nghệ do doanh nghiệp thành lập được tổ chức dưới các hình thức theo quy định tại Điều 9 Luật Khoa học và công nghệ, các tổ chức này có hoạt động độc lập, có điều lệ tổ chức và hoạt động, có con dấu vốn điều lệ và không thuộc các loại hình doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp hiện hành.

Sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động khoa học và công nghệ, tổ chức khoa học và công nghệ phải thực hiện thủ tục đăng ký thuế theo quy định tại Thông tư số 80/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính để được cấp mã số thuế 10 số, chi nhánh, văn phòng đại diện thuộc tổ chức khoa học và công nghệ được cấp mã số thuế 13 số theo mã số thuế 10 số của tổ chức chủ quản và thực hiện các thủ tục, nghĩa vụ thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế. Chương ngân sách nhà nước đối với các tổ chức khoa học và công nghệ do doanh nghiệp thành lập được phân loại theo “chương” của doanh nghiệp chủ quản. Cụ thể:

 

Đăng ký thuế đối với tổ chức khoa học và công nghệ

1. Đăng ký thuế đối với tổ chức

Là tổ chức sản xuất kinh doanh không thành lập theo Luật Doanh nghiệp và các đơn vị trực thuộc

a) Đối với tổ chức sản xuất kinh doanh

Hồ sơ đăng ký thuế gồm:

– Tờ khai đăng ký thuế theo mẫu 01-ĐK-TCT ban hành kèm theo Thông tư này và các bảng kê kèm theo tờ khai đăng ký thuế (nếu có);

– Bản sao không yêu cầu chứng thực Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Giấy chứng nhận đầu tư hoặc Quyết định thành lập.

Trường hợp tổ chức sản xuất kinh doanh là đơn vị chủ quản có đơn vị trực thuộc thì tổ chức sản xuất kinh doanh phải kê khai các đơn vị trực thuộc vào “Bảng kê các đơn vị trực thuộc”. Cơ quan thuế quản lý trực tiếp đơn vị chủ quản cấp mã số thuế cho đơn vị chủ quản, đồng thời cấp mã số cho từng đơn vị trực thuộc có trong “Bảng kê các đơn vị trực thuộc” của đơn vị chủ quản, kể cả trường hợp các đơn vị trực thuộc đóng tại các tỉnh khác. Đơn vị chủ quản có trách nhiệm thông báo mã số thuế (13 số) cho các đơn vị trực thuộc. Cơ quan thuế quản lý đơn vị chủ quản có trách nhiệm thông báo mã số thuế (13 số) cho cơ quan thuế quản lý đơn vị trực thuộc.

Trường hợp đơn vị chủ quản thành lập thêm đơn vị trực thuộc thì đơn vị chủ quản phải có hồ sơ gửi cơ quan thuế quản lý trực tiếp để được cấp mã số thuế cho đơn vị trực thuộc mới thành lập thêm, đồng thời bổ sung vào “Bảng kê các đơn vị trực thuộc” của đơn vị chủ quản.